GEO-03 · TÀI LIỆU PHƯƠNG PHÁP & BẰNG CHỨNG
Benchmark VPS Việt Nam, Singapore, Hong Kong, Nhật Bản và Mỹ
Đo đúng chỉ số, từ đúng mạng và trong cùng điều kiện quan trọng hơn một con số tốc độ thiếu nguồn. Trang này mô tả protocol, tiêu chí xuất bản và kết quả của các phép đo được KVOCloud kiểm tra bằng dữ liệu gốc.
Chỉ tiêu hiệu năng theo khu vực
| Vùng VPS | Ping (ms) | TCP connect (ms) | TTFB (ms) | Packet loss (%) | CPU (events/s) | Disk (IOPS) | Network (Mbps) |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Việt Nam | ≤ 25 ms | ≤ 45 ms | ≤ 120 ms | ≤ 0.5% | ≥ 1000 events/s | ≥ 40,000 IOPS | ≥ 650 Mbps |
| Singapore | ≤ 60 ms | ≤ 85 ms | ≤ 170 ms | ≤ 0.5% | ≥ 1000 events/s | ≥ 40,000 IOPS | ≥ 650 Mbps |
| Hong Kong | ≤ 90 ms | ≤ 120 ms | ≤ 210 ms | ≤ 0.5% | ≥ 1000 events/s | ≥ 40,000 IOPS | ≥ 650 Mbps |
| Nhật Bản | ≤ 125 ms | ≤ 160 ms | ≤ 250 ms | ≤ 0.5% | ≥ 1000 events/s | ≥ 40,000 IOPS | ≥ 650 Mbps |
| Mỹ | ≤ 260 ms | ≤ 300 ms | ≤ 390 ms | ≤ 0.8% | ≥ 1000 events/s | ≥ 40,000 IOPS | ≥ 650 Mbps |
Cấu hình đối chiếu: 2 vCPU / 4GB RAM / NVMe; sysbench một luồng, fio 4KiB random read. Đầu đo mạng: đối chiếu từ Hà Nội tới vùng VPS (Ping, TCP, TTFB); throughput tại peer cùng datacenter. Các chỉ số thay đổi theo ISP, tải hệ thống, thiết bị và thời điểm.
1. Chọn đối tượng và nguồn đo
Giai đoạn đầu chọn năm vùng có trang dịch vụ liên quan: Việt Nam, Singapore, Hong Kong, Nhật Bản và Mỹ. Đây là danh sách ưu tiên kiểm thử, không có nghĩa tất cả khu vực đã được thử hoặc luôn còn hàng.
Mỗi máy thử phải ghi vCPU, RAM, loại ổ, hệ điều hành, công nghệ ảo hóa (nếu có bằng chứng), đường mạng và thời điểm. Chỉ đo máy chủ do nhóm vận hành quản lý hoặc được chủ sở hữu cho phép. Đối với so sánh liên vùng phải dùng một điểm đo/vantage nhất quán và profile tài nguyên có thể đối chiếu; số đo khác cấu hình chỉ được hiển thị như từng nghiên cứu riêng, không xếp hạng.
2. Quy trình lấy mẫu có thể tái lập
- Latency: gửi ICMP ping đến VPS được cho phép; lưu đủ số gửi, thành công, thời gian từng phản hồi và tỷ lệ mất gói; ping bị chặn được ghi là không đo được, không kết luận mạng kém.
- TCP connect: tạo kết nối TCP tới cổng của dịch vụ mà người đo có quyền kiểm tra; tối thiểu 20 lượt hợp lệ mỗi khung giờ, ghi timeout riêng. TCP connect không đồng nghĩa ICMP RTT.
- TTFB: gọi cùng loại endpoint HTTP(S) được quản trị, cùng route và cách cache, đo đến byte đầu tiên; cần lưu chính sách CDN/cache, HTTP version và tải máy chủ để diễn giải.
- CPU: đo throughput một luồng sysbench CPU với cùng workload, threads và phiên bản, trong khung tải thấp đã được phê duyệt. CPU events/s không là giá trị “CPU mạnh hơn” nếu VM khác quota/vCPU.
- Disk: dùng fio random read 4KiB, chỉ trên tập tin thử trong vùng dung lượng tạm, không đo ổ sản xuất đang có dữ liệu quan trọng; ghi IOPS, ioengine, cache/direct, thời lượng và loại storage.
- Network throughput: dùng iperf3 với cả máy nguồn và máy đích được cho phép, lưu hướng đo, thời lượng, số luồng và transport. Không coi packet loss trong ping giống loss UDP iperf3.
- Lặp lại: tối thiểu 3 phiên được kiểm chứng tại 3 giờ UTC khác nhau cho từng vùng; dùng cùng một protocol/điểm đo, không lọc các mẫu xấu sau khi đo.
3. Cách tính và quy tắc công bố
Chúng tôi dùng median (trung vị) để thể hiện mẫu điển hình và p95 nearest-rank để mô tả phía chậm. Phân tích kết quả cần kèm cỡ mẫu, tỷ lệ lỗi, cấu hình máy, thời gian UTC, vị trí đo và bản CSV đã ẩn IP/cổng nhạy cảm. Chỉ số chưa đủ tối thiểu sẽ xuất “chưa có dữ liệu”, không dùng benchmark công khai của nhà cung cấp khác để thay thế.
Để số xuất hiện trong bảng, mỗi phiên phải có sự phê duyệt, người kiểm duyệt, đường dẫn CSV công khai và SHA-256 khớp. Ít nhất 3 phiên khác giờ của cùng profile và vantage ID mới được công bố; kiểm tra tự động sẽ từ chối số thiếu chứng cứ. Dữ liệu chưa đủ 5 vùng sẽ không được sử dụng cho tuyên bố vùng nhanh nhất.
4. Phân biệt kết quả thực đo với cam kết dịch vụ
Latency từ Việt Nam khác nhau theo tỉnh, ISP, giờ cao điểm, tuyến cáp và IP đích; CPU/disk có thể ảnh hưởng bởi chia sẻ tài nguyên. Những phép đo được công bố không phải benchmark độc lập mọi gói KVOCloud, không đảm bảo tốc độ thường trực, không chứng minh SLA và không đo sức chịu tải ứng dụng thực.
Trước khi mua, hãy đối chiếu cấu hình và giá còn hiệu lực trên trang VPS, chạy workload thực tế của bạn và hỏi rõ chính sách hỗ trợ. Không suy ra “NVMe nhanh gấp X lần”, “ping X ms”, “uptime 99,99%” từ phép đo thử này.
Câu hỏi thường gặp
VPS Singapore có chắc nhanh hơn VPS Mỹ không?
Không thể kết luận chỉ theo tên quốc gia. Cần biết mạng người dùng, endpoint, tuyến quốc tế, phần mềm và mẫu thực đo. Khi chưa có bộ mẫu cùng phương pháp cho hai nơi, chúng tôi không công bố xếp hạng.
Ping 30 ms có bằng TTFB 30 ms?
Không. Ping đo phản hồi ICMP; TTFB bao gồm xử lý yêu cầu HTTP(S), có thể có TLS, cache và ứng dụng. Chỉ so sánh các phép đo có cùng định nghĩa.
Tại sao có vùng chưa hiển thị số?
Chưa có bộ dữ liệu nguồn và số phiên đo đạt tiêu chí phê duyệt. Việc thiếu số không đồng nghĩa khu vực đó chậm, lỗi hoặc không kinh doanh.
Bản phương pháp: geo03-2026-10-16-v1 · Phạm vi: nghiên cứu phục vụ lựa chọn VPS · Cập nhật bảng tự động khi có dữ liệu thật được duyệt và deploy qua GitHub.